Blog trắc nghiệm y khoa Blog Trắc nghiệm y khoa
10 / 10 1500 bình chọn
Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH LÝ THẦN KINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH LÝ THẦN KINH. Hiển thị tất cả bài đăng

RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG

RỐI LOẠN VẬN ĐỘNG


1.Tăng vận động bao gồm:

Run
Múa giật
Múa vung
Giật cơ
Các tic
Rung cơ
Loạn trương lực cơ
Hc tay chân không yên
Giật mình quá mức
Chứng ngồi nằm không yên
Myorrhythmia.

2. Giảm vân động bao gồm:

H/c parkinson
Mất dùng động tác( mất thực dụng)
Dáng đi gập người
Chậm chạp do nhược giáp
Co cứng.

              TỔNG QUAN

1 CHỨNG NGỒI, NẰM KHÔNG YÊN:

Không thể ngồi yên 1 chổ
Cảm giác bồn chồn bên trong, giảm hoặc mất khi duy chuyển
Các vận động phức tạp và định hình cục bộ hoặc toàn thể
Thường có thể KIỀM CHẾ ĐƯỢC trong thời gian ngắn
Nguyên nhân phổ biến nhất là do quá trình điều trị, đặc biệt thuốc beta block.

2 MÚA VUNG:

Các vận động biên độ lớn ở GỐC CHI
Các vận động vụt tay, chân hoặc ném.
Nguyên nhân phổ biến nhất của múa vung nữa người là đột quỵ.

3 MÚA GIẬT:

Bệnh nhân có thể ngừng vận động. 
Là các vận động tự động KHÔNG ĐỀU, không mục đích, không có nhịp điệu, và không bền bỉ.
Có thể kiềm chế được 1 phần, ngụy trang thành những vận động chủ động bán mục đích.

3 LOẠN ĐỘNG:

Duy chuyển liên tục
Có thể dùng cho bất kỳ vận động tự động, vẫn hay được dùng trong các trường hợp múa vung, hoặc loạn truong lực cơ thứ phát.

4 LOẠN TRƯƠNG LỰC CƠ:

Một vận động bất thường đặc trưng bởi sự co cơ liên tục biểu hiện bởi các tư thế XOẮN VẶN, các động tác lập lại hoặc tư thế bất thường.
Sự biến động rộng về tốc độ, tần số và nhịp điệu.

5 CO THẮT CƠ NỬA MẶT:

Là sự co thắt cơ của cơ mặt 1 bên một cách nhanh, ngắn và lặp lại, có thể tiến triển thành co tjawts liên tục, thường biểu hiện khi bệnh nhân co cơ mặt chủ động và mạnh.

6 GIẬT CƠ:

Các vận động tự ý đột khởi gây ra bởi sự co cơ hoặc ức chế cơ. 
Xảy ra khi nghỉ ngơi và cả đang hoạt động, có thể có nhịp điệu hoặc không có nhịp (giật nhanh).

7 RUNG CƠ:

Run nhỏ hoặc gợi lăn tăn các cơ và thường gặp cơ mặt. 
Phân biệt với rung giật bó cơ trên điện cơ đồ laủng cơ cho sóng đều với bộ 2 hoặc bộ 3.

8 ĐỒNG ĐỘNG:

Một động tác tự ý đi kèm với 1 động tác chủ động.

9 TiC:

 Bao gồm các vận động hoặc âm thanh bất thường, thay đổi về độ nặng theo thời gian.
Thường xuất hiện bởi cảm giác, cảm xúc không thỏa mái và được giải tỏa bằng cách thực hiện động tác. 
Nó có thể kìm nắn được.

10 RUN:

Là động tác đều có nhịp và cùng biên độ 

Nguồn: Thần _Kinh _Học



CHỨNG RUN LÀ DẤU HIỆU BỆNH LÝ GÌ ?

                                                     CHỨNG RUN dấu hiệu bệnh gì? 


Run là tình trạng co cơ nhịp nhàng, CÙNG BIÊN ĐỘ, không tự chủ dẫn đến chuyển động rung lắc ở một hoặc nhiều bộ phận của cơ thể. Đây là chứng rối loạn vận động phổ biến nhất. Nó thường ảnh hưởng nhất ở bàn tay nhưng cũng có thể xảy ra ở cánh tay, đầu (lắc đầu), miệng, dây thanh quản (nói run) , thân và chân. Run có thể không liên tục (xảy ra vào những thời điểm riêng biệt,và hoặc có thời gian nghỉ) hoặc liên tục.

Run là phổ biến nhất ở người trung niên và lớn tuổi (hay gặp tổn thương thực thể) mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tỉ lệ ảnh hưởng đến nam giới và phụ nữ như nhau. 

Run cũng được phân loại là run nghỉ ngơi (run tĩnh) và run khi vận động (khi chúng ta làm một việc gì đó). Run khi nghỉ ngơi xảy ra khi các cơ được thư giãn, chẳng hạn như khi ngồi yên. Loại run này có thể gặp trong bệnh Parkinson. Triệu chứng run xảy ra khi các cơ đang được chuyển động một cách tự ý.

NGUYÊN NHÂN NÀO CÓ THỂ GÂY RA CHỨNG RUN TAY

Run là do sự phối hợp sai các cử động của các cấu trúc não như hạch nền và tiểu não. Một số dạng run có thể xảy ra trong gia đình hoặc do di truyền, nhưng hầu hết chúng không phải.

    1. Run có thể do một số tình trạng thương tổn thần kinh khác nhau bao gồm nhưng không giới hạn ở bệnh Parkinson, Run sinh lý, loạn trương lực cơ, đột quỵ, đa xơ cứng, run thế đứng, bệnh Huntington. 

   2. Run có thể do thuốc, nhưng không giới hạn ở caffeine, albuterol, lithium, và một số loại thuốc co giật và thuốc chống trầm cảm.

   3. Run cũng có thể được gây ra bởi các tình trạng chuyển hóa như cai rượu, chức năng TUYẾN GIÁP bất thường, bệnh gan hoặc thận hoặc LO ÂU. 

        Điều trị run tay như thế nào?

Việc điều trị chứng run phần lớn phụ thuộc vào NGUYÊN NHÂN ra chứng run và có thể khá đa dạng. Điều trị đầu tiên nhằm mục đích điều trị các nguyên nhân có thể đảo ngược, như thuốc và điều chỉnh lối sống.

 Các phương pháp bao gồm sử dụng thiết bị thích ứng hoặc liệu pháp vận động. Thuốc cũng có thể được sử dụng nếu tình trạng run vẫn còn gây khó chịu. Thuốc tiêm Botulinum có thể được sử dụng cho một số chứng run nhất định, đặc biệt là đối với chứng run của đầu và cổ. Các dạng run khác có thể cần đến sự can thiệp của phẫu thuật.

         Bạn có thể mong đợi điều gì? 

Run tay tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể gây cản trở đến các công việc và cuộc sống hàng ngày. Run cũng có thể gây khó chịu về mặt xã hội và có thể khiến mọi người hạn chế các hoạt động của mình để tránh xấu hổ hoặc tự ý thức. 

Run do tình trạng thoái hóa thần kinh (thường gặp người lớn tuổi, hoặc chấn thương thần kinh..) thường sẽ trầm trọng hơn theo tuổi tác. Tuy nhiên, run cơ năng, run do thuốc và run sinh lý thường không xấu đi theo thời gian và thực sự có thể cải thiện hoặc giải quyết nếu nguyên nhân cơ bản được điều trị.

Nguồn: Thần_Kinh_Học