Blog trắc nghiệm y khoa Blog Trắc nghiệm y khoa
10 / 10 1500 bình chọn

BỆNH SỞI

I. Định nghĩa:
Sởi là bệnh truyền nhiễm do siêu vi sởi (Polinosa morbillarum) gây ra.
Lứa tuổi dễ mắc bệnh nhất là trẻ em từ 2 – 6 tuổi.

II. Chẩn đoán: dựa vào dịch tể, lâm sàng và cận lâm sàng

1. Dịch tể: lứa tuổi, đang có dịch bệnh xãy ra, có tiếp xúc với bệnh nhân sởi

2. Lâm sàng:
-Hội chứng nhiễm độc: sốt, mệt mỏi, uể oải toàn thân, ăn uống kém, nôn ói,…
- Hội chứng viêm long (viêm xuất tiết): chảy nước mắt, nước mũi gây hắt hơi, ho; viêm kết mạc mắt gây chảy nước mắt, nhiều ghèn, phù nề mi mắt, mắt đỏ. Viêm long đường tiêu hóa gây tiêu chảy.
- Nốt Koplik thường xảy ra trước hay ngày đầu ra ban (ngày thứ 2 của sốt), biến mất sau 24 – 48 giờ sau phát ban (tồn tại 12 – 14 giờ): nốt trắng có kích thước bằng đầu kim, ở niêm mạc má vùng răng hàm.
- Hồng ban toàn thân:
o Phát ban vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh, hồng ban không tẩm nhuận, dạng dát, sẩn, kích thước nhỏ, giữa các nốt ban là khoảng da lành. Ban mọc rải rác hay dính liền nhau thành mảng tròn 3 – 6 mm, sự phát ban diễn ra theo trình tự:
- Ngày đầu: mọc sau tai rồi lan dần ra hai bên má, cổ
- Ngày 2: ban lan xuống ngực, bụng và 2 tay
- Ngày 3: ban lan ra sau lưng, hông và 2 chân
o Ban tồn tại đến ngày thứ 6 kể từ ngày bắt đầu phát ban, kế đó sẽ dần dần biến mất theo trình tự xuất hiện, từ mặt đến thân mình và chi, để lại các nốt thâm có tróc da mỏng, mịn giống bụi phấn hay vảy cám.

CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA THÂN NHIỆT

  Cơ thể chúng ta gồm có:
-Nhiệt độ trung tâm: gồm các phần sâu trong cơ thể như, Não, Gan và các tạng,,, có 3 cách đo nhiệt độ trung tâm đó là, đo ở trực tràng, đo ở miệng, đo ở hõm nách.

-Nhiệt độ ngoại vi: là nhiệt độ của da và tổ chức dưới da còn gọi là nhiệt độ phần vỏ cơ thể.


+ Cơ chế chống nóng của cơ thể:
- Giãn mạch da
- Bay hơi mồ hôi
- Giảm sinh nhiệt (ức chế sự run cơ và sinh nhiệt hóa học)

+ Cơ chế chống lạnh của cơ thể:
- Co mạch da
- Phản xạ dựng lông (nổi da gà)
- Tăng sinh nhiệt: như run cơ, sinh nhiệt hóa học do tác dụng giao cảm, sinh nhiệt hóa học do tăng tiết Thyroxine

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA VACCIN

Lịch Sử
Edward Jenner được công nhận là người đầu tiên dùng vắc-xin để ngừa bệnh cho con người ngay từ khi người ta còn chưa biết bản chất của các tác nhân gây bệnh (năm 1796). Louis Pasteur với các công trình nghiên cứu về vi sinh học và miễn dịch học đã mở đường cho những kiến thức hiện đại về vắc-xin.

Truyền Thuyết
Vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, vua Mithridate VI mỗi ngày đều uống một lượng nhỏ độc chất cho cơ thể quen dần nhằm đương đầu với nguy cơ bị ám sát. Chuyện kể rằng cách này đã tỏ ra hiệu quả vì về sau, khi Mithridate thất trận và tự sát, liều thuốc độc ông ta uống vào chẳng có ép phê gì.
Ở Trung Quốc, vào khoảng thế kỷ thứ 10, các thầy lang Đạo giáo đã bí mật dùng một kỹ thuật phòng bệnh đậu mùa. Đậu mùa là chứng bệnh hiểm nghèo, nếu không giết chết bệnh nhân thì nó cũng để lại những vết sẹo rỗ trên mặt. Các thầy lang đã lấy vẩy sẹo của người bị bệnh(chứa mầm bệnh), cho vào một chiếc hộp kín rồi giữ ở nhiệt độ nhất định trong một thời gian để giảm độc tính, sau đó nghiền nhỏ thổi vào mũi của người khỏe chưa từng mắc bệnh đậu mùa để ngừa bệnh.
Một phương pháp tương tự cũng được dùng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ 18.

NGUYÊN NHÂN GÂY VÀNG DA


Tùy theo từng giai đoạn, nguyên nhân ta chia vàng da làm 3 thời điểm khác nhau như sau:

+ VÀNG DA TRƯỚC GAN:
hay còn gọi là vàng da dung huyết do một lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ làm tăng bilirubin tự do trong máu
- Nguyên nhân:
do mắc các bệnh như: sốt rét ác tính, các bệnh lý về hồng cầu, bất đồng về nhóm máu, vàng da sinh lý ở trẻ em và vàng da do di truyền vì thiếu enzym glucuronyl transferase.
- Xét Nghiệm:
Máu: Bilirubin tự do tăng là chủ yếu, Bilirubin toàn phần tăng.
Nước tiểu: Bilirubin (-) (do Bilirubin tự do không tan trong nước)
Phân: Stercobilinogen bình thường hoặc tăng nhẹ